Các nữ tu vùng thảo nguyên: Các nữ tu dòng thừa sai Consolata tại Mông Cổ

Năm mới luôn là một khởi đầu mới và là thời gian của hy vọng. Tất cả chúng ta đều hy vọng một năm mới mạnh khoẻ, gia đình hạnh phúc và công việc ổn định. Hy vọng luôn là động lực của Giáo Hội trong hành trình qua thời gian tới hạnh phúc cuối cùng cùng với Chúa. Và hy vọng cũng là thứ tiếp sức cho Giáo Hội tại các quốc gia truyền giáo....

Câu chuyện truyền giáo năm mới này là về Giáo Hội tại Mông Cổ và một dòng thừa sai nữ phục vụ tại đó. Như thường lệ, công việc truyền giáo không vắng bóng thập giá, nhưng hy vọng chiếm ưu thế trong Giáo Hội rất non trẻ đó, một giáo hội đang bén rễ tại đất nước này.

Trong năm mới này, chúng ta cùng nhìn về phía trước với hy vọng và niềm vui và chúng ta cũng làm mới tinh thần truyền giáo, để Chúa Giêsu được mọi người xa gần đều biết đến.

****************

Trong 14 năm qua, các nữ tu dòng thừa sai Consolata là nữ tu của vùng thảo nguyên, rao giảng Tin Mừng cho một dân tộc đang tìm kiếm Thiên Chúa và giúp cải thiện cuộc sống của họ ở Mông Cổ, nơi có hơn 20% dân số sống dưới mức 1,25 đô la Mỹ mỗi ngày. “Người dân ở đây từ trước đến nay, một cách tự nhiên, vẫn luôn tìm kiếm Thiên Chúa và tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc sống của họ,” theo Sơ Sandra Garay, một thành viên người Argentina của dòng Thừa sai Consolata đang phục vụ tại Mông Cổ và cố gắng mang lại niềm an ủi của Đức Mẹ Maria cho những người túng thiếu về tinh thần cũng như vật chất.

Mông Cổ trước đây là quê hương cổ xưa của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh thổ Kim Trướng Hãn Quốc trong nhiều thế kỷ và gần đây hơn là một quốc gia vệ tinh của Liên Xô cũ. Dân số không theo tôn giáo của Mông Cổ ở mức 39%. Sơ Sandra cho biết các tu sĩ Dòng thừa sai Consolata luôn “nhiệt tình truyền bá Phúc Âm” và sứ mệnh truyền giáo của họ tại Mông Cổ “bắt đầu từ số không.”

Cộng đoàn Consolata gồm có một dòng nam và một dòng nữ, bao gồm những linh mục và nữ tu tận hiến cho Thiên Chúa, dấn thân rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc, đặc biệt ở những nơi Tin Mừng chưa được biết đến. Cộng đoàn được Chân phước Giuseppe Allamano thành lập vào năm 1901 tại Ý và hiện nay là một cộng đoàn quốc tế.

Bằng sự hiện diện và công việc của mình, các tu sĩ dòng thừa sai Consolata đang đáp ứng một yêu cầu xin gởi các nhà truyền giáo Công giáo tới Mông Cổ được đưa ra cách đây 700 năm. Thành Cát Tư Hãn, hoàng đế của đế quốc Mông Cổ, năm 1271, thông qua nhà thám hiểm người Ý Marco Polo, đã đích thân yêu cầu Đức Giáo Hoàng gởi 100 vị thừa sai đến Mông Cổ để cải hoá người dân của ông theo Kitô giáo. Hoàng đế đã đưa ra lời yêu cầu này sau khi giáo điểm đầu tiên tại Mông Cổ do tu sĩ dòng Phanxicô Giovanni da Pian del Carpine thành lập năm 1245 bị thất bại. Đáng buồn, Đức Giáo Hoàng Gregory X chỉ gửi hai tu sĩ dòng Đa Minh và các vị này không thể đến được Mông Cổ, do đó bỏ lỡ cơ hội mang Đế quốc Mông Cổ đến với đức tin Công giáo.

Giáo điểm hiện đại đầu tiên tại Mông Cổ được thành lập ở thủ đô Ulaanbaatar vào năm 1922 và được giao cho Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ. Nhưng hai năm sau, nước Cộng hòa nhân dân được thành lập chịu ảnh hưởng của chế độ Xô Viết, và mọi hoạt động tôn giáo đều bị đàn áp cho đến khi thay đổi chính quyền vào năm 1992.

Gần hơn một nửa dân số là Phật tử, và phần lớn số còn lại không theo tôn giáo nào. Kitô giáo, Hồi giáo và Saman giáo chỉ có chỗ đứng khiêm tốn trong dân chúng. Sơ Sandra nói: “Đó là một vùng đất hiểm trở, nhưng Thiên Chúa làm những điều kỳ diệu. Vẫn có hy vọng cho người dân chúng tôi.” Sơ cho biết thêm quốc gia với 3,2 triệu người này có khoảng 1.200 người Công giáo, 900 người trong số đó là người Mông Cổ bản địa.

Năm 2002, giáo điểm Ulaanbaatar được nâng lên thành hạt phủ doãn tông toà. Hạt bao gồm toàn bộ đất nước, và bề trên giáo điểm, Cha Wenceslao Padilla, một linh mục dòng Khiết Tâm, được bổ nhiệm làm Phủ doãn tông toà. Cha đã được tấn phong giám mục vào năm 2003. Đức Giám mục Padilla coi sóc 12 dòng tu với khoảng 60 thừa sai phục vụ ở Mông Cổ, làm công việc truyền giáo đồng thời cung cấp các dịch vụ xã hội: nhà trẻ, trường học, trung tâm dạy nghề Don Bosco, nhà hưu dưỡng do các nữ tu dòng thừa sai của Mẹ Teresa điều hành, thư viện, nhà ở cho sinh viên nông thôn, trung tâm cho trẻ em đường phố... Phó tế người Mông Cổ đầu tiên, Joseph Inkh, được phong chức phó tế vào tháng 12 năm 2014. Thầy trở thành linh mục vào tháng 6 năm 2016: linh mục đầu tiên người Mông Cổ. Tại Hàn Quốc, còn có một thanh niên Mông Cổ khác, Pietro Sanjajab, đang tu học tại chủng viện.

Giáo Hội luôn thể hiện sự tôn trọng sâu sắc đối với Phật giáo - tôn giáo phổ biến nhất tại quốc gia này - mặc dù chưa có một cuộc đối thoại cấp cao nào giữa hai tôn giáo. Các cộng đoàn Tin Lành (chủ yếu xuất xứ từ Hàn Quốc) đang có mục tiêu cải đạo 10% dân số vào năm 2020. Tuy nhiên, những phương pháp các cộng đoàn này sử dụng đã làm dấy lên mối nghi ngờ của chính quyền và cũng gây ra không ít khó khăn cho Giáo Hội Công Giáo, vì người dân thông thường vẫn cảm nhận Kitô giáo là một khối duy nhất không có khác biệt gì lớn.

Giáo Hội gặp những thách thức to lớn trong một quốc gia bao phủ với những thảo nguyên, có những mùa đông lạnh giá. Gần một nửa dân số sống ở Ulaanbaatar, và phần lớn trong số còn lại là dân du mục. Sơ Sandra giải thích: “Đương nhiên, đến từ những nơi có khí hậu, văn hóa, ngôn ngữ và địa hình khác hẳn, tôi và các sơ khác ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, nhưng là nhà truyền giáo, có Thiên Chúa lo liệu, chúng tôi đã có thể thích nghi.”

Sơ Sandra cho biết với hơn một chục năm kinh nghiệm các nữ tu dòng thừa sai Consolata tin tưởng vào tương lai: “Chúng tôi sẽ tiếp tục các kế hoạch mục vụ rao giảng Tin Mừng và đón nhận những người tìm kiếm Thiên Chúa và đức tin vào Ngài. Chúng tôi cũng sẽ cố gắng thăng tiến họ bằng giáo dục và phát triển các nhu cầu cơ bản.”

Tác giả: Antonio Gonsalves